Hiển thị các bài đăng có nhãn liệu pháp tự nhiên. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn liệu pháp tự nhiên. Hiển thị tất cả bài đăng

Sự tích ít ai biết về cây kim ngân và tác dụng hữu hiệu trong điều trị mụn trứng cá


Cây kim ngân không chỉ được biết đến là một dược thảo thuốc Nam được sử dụng phổ biến trong điều trị mụn nhọt, viêm mũi dị ứng; mà còn có những điển tích cảm động lòng người được lưu truyền trong dân gian.
Truyện kể rằng, ngày xưa rất là xưa ấy, ở một vùng núi xa xôi, có một cặp vợ chồng nghèo. Họ là những người nông dân chất phác, chăm chỉ làm ăn, nhưng lấy nhau đã lâu mà chưa có con. Hai vợ chồng đã đến gặp nhiều thầy thuốc, uống đủ loại thang vị, ngày đêm cầu trời khấn phật mong có được mụn con. Một thời gian sau, họ mừng không kể xiết vì người vợ có thai và sau đó hạ sinh được hai cô con gái kháu khỉnh, đặt tên cô chị là Kim Hoa, cô em là Ngân Hoa.
Hai cô càng lớn càng xinh đẹp, lại ngoan ngoãn hiếu kính với cha mẹ. Khi các cô đến tuổi cập kê, cũng có nhiều người đến hỏi cưới một trong hai. Nhưng phần vì cha mẹ thương con chưa muốn xa rời, phần vì hai cô quyết không sống chia ly, nên đã từ chối tất cả lời cầu hôn gửi đến.
Sự việc chẳng may ập đến khi hai cô đến tuổi 16, Kim Hoa đột nhiên mắc bệnh lạ, cô bắt đầu thấy sốt, đau đầu, đau lưng, mệt mỏi, sau đó là phát ban mụn nhọt, rồi chuyển bọng nước và vỡ ra.
Ảnh minh họa: tienvnguyen.net
Bố mẹ cô đã mời rất nhiều thầy y đến, nhưng họ đều lắc đầu vì bệnh lạ và kê đơn thuốc cầm chừng. Người em Ngân Hoa thấy chị bị ốm đau như vậy rất thương sót, tận tình chăm sóc chị. Kim Hoa lo sợ em ở bên cạnh mà lây bệnh, luôn nhắc nhở em tránh xa, nhưng cô em nhất quyết không rời.
Ít lâu sau, cô em cũng mắc bệnh giống chị. Trước khi chết, họ có lời trăn trối cuối cùng với cha mẹ: “Chúng con chết rồi nhất định sẽ biến thành một thứ dược thảo, để cứu sống những người mắc bệnh lạ này. Chúng con xin bố mẹ tha tội chúng con đi trước, chúng con sẽ đợi bố mẹ ở thế giới bên kia, và xin cảm đội công ơn bố mẹ nuôi dưỡng”.

Hai vợ chồng nông phu đau đớn chôn cất hai người con gái chung một mộ. Sau đó, từ mộ mọc ra một loài cây thân leo. Loài cây này phát triển rất nhanh, lá xanh tốt sum suê. Khi mới ra hoa thì có màu trắng, lâu dần chuyển sang vàng. Cả hai màu trên một thân cây như hai chị em Kim Hoa và Ngân Hoa luôn sánh bước bên nhau. Đấy chính là cây kim ngân mà y học cổ truyền đang dùng làm thuốc. Hơn nữa, đúng như nguyện ước của hai chị em họ, nó là một trong những vị thuốc chữa được căn bệnh lạ (ngày nay gọi là bệnh đầu mùa) mà hai chị em xấu số mắc phải. Không những thế, qua năm tháng sử dụng, các thầy thuốc đã phát hiện ra những tác dụng ưu việt của loài cây này với những căn bệnh khác, đặc biệt là trị mụn trứng cá.
Cây Kim Ngân xanh sum suê đang ra hoa. (Ảnh: thaomocviet.vn)
Cây kim ngân là cây mọc hoang có mặt trên nhiều tỉnh thành phía bắc của nước ta như: Cao Bằng, Lạng Sơn, Ninh Bình, Thanh Hóa… Hiện nay, đã được một số nơi trồng để làm thuốc. Cây kim ngân vào mùa đông vẫn xanh tốt cho nên còn có một tên gọi khác là nhẫn đông nghĩa là chịu đựng mùa đông.
Loại cây này cho ta hai vị thuốc. Một là kim ngân hoa (hoa của cây kim ngân): được thu hái khi hoa sắp nở hoặc mới nở, hoa còn màu trắng chưa chuyển vàng. Hai là kim ngân đằng (lá và cành của cây kim ngân): thường dùng cành và lá bánh tẻ. Cả hai loại đều phơi sấy khô là dùng được.
Vị thuốc kim ngân hoa. (Ảnh: anvihouse.com)
Theo những nghiên cứu về tác dụng dược lý, kim ngân có tác dụng kháng sinh. Nước sắc cô đặc của hoa kim ngân có tác dụng ức chế mạnh tụ cầu khuẩn, vi khuẩn thương hàn. Năm 1990, Sở nghiên cứu Trung y dược tỉnh Giang Tây Trung Quốc có đưa ra kết luận: tính kháng sinh của kim ngân đằng là mạnh hơn so với kim ngân hoa.

Theo y học cổ truyền, kim ngân có vị ngọt, tính hàn (ngọt), không độc. Có tác dụng thanh nhiệt, giải độc; chủ trị mụn nhọt, rôm sảy, lên đậu, lên sởi, tả lỵ, viêm mũi dị ứng, thấp khớp.
Kim ngân có vị ngọt, tính hàn. (Ảnh: Bảo tồn dược liệu)
Do những tính năng dược lý và tác dụng ở trên, có thể sử dụng kim ngân trong việc điều trị mụn trứng cá. Một số công thức có thể sử dụng như sau:
Dùng ngoài da: Kim ngân đằng 10g, Dạ giao đằng 10g, Cam thảo 10g. Sắc lấy nước rửa mặt sáng tối.
Dùng đường uống:
Bài 1: Dùng độc vị Kim ngân hoa 6g hoặc kim ngân đằng 12g cho 100ml nước, sắc còn 10ml. Uống nóng trong ngày, có thể sắc từ 2-4 lần/ngày.
Tuy nhiên, theo chứng bệnh của Đông y thì người bị ‘tỳ vị hư hàn’ không nên sử dụng, nghĩa là vấn đề tiêu hóa bị hư yếu: đầy bụng, khó tiêu, đại tiện lỏng, tiểu tiện trong nhiều.
Ảnh: shui.org
Bài 2: Kim ngân hoa 50g, cam thảo 10g sắc nước uống trong ngày, chia 2 – 3 lần, uống trong ngày.
Một số người dùng bài 1 có thể bị đại tiện lỏng thì nên dùng sang bài này. Vị cam thảo cũng có tác dụng chống viêm, kháng khuẩn tốt, hơn nữa tính ấm có thể điều hòa tính hàn (lạnh) của vị kim ngân.
Bài 3: Bài Thần hiệu thác lý tán: Kim ngân đằng 20g, Đương quy 10g, Cam thảo 10g, sắc nước uống trong ngày, chia 2 – 3 lần.
Đây là một bài thuốc chữa ung nhọt cổ xưa, sẽ giúp tiêu nhọt mưng mủ, thích hợp trong điều trị trứng cá bọc.

Share:

Các bài thuốc chữa bệnh rẻ tiền lại hiệu quả từ tỏi


Theo Đông y, tỏi vị cay, tính ấm, có công dụng hành khí trệ, làm ấm tỳ vị, giải độc và sát trùng có tác dụng trị các chứng bệnh như đầy bụng, chậm tiêu, rối loạn tiêu hóa, đau bụng do lạnh, phù thũng, tiêu chảy, bệnh lỵ, sốt rét, ho gà, mụn nhọt…
Tỏi là gia vị quen thuộc của người Việt trong bữa ăn hằng ngày. Trong đông y, tỏi còn là vị thuốc trị một số bệnh hay gặp.

Các bài thuốc chữa bệnh rẻ tiền lại hiệu quả từ tỏi
Ảnh minh họa.

Theo Thanh Niên, lương y Phạm Như Tá cho biết, củ tỏi có vị cay, tính ấm, có công dụng làm ấm tỳ vị, giải độc và sát trùng… Tỏi không chỉ là loại gia vị mà còn có tác dụng như một loại thuốc kháng sinh, làm tăng sức đề kháng của cơ thể, giúp giảm nguy cơ mắc các chứng bệnh do vi khuẩn hay vi rút xâm nhập.
Tỏi cũng là chất xúc tác giúp vết thương mau lành, hạn chế nguy cơ viêm nhiễm. Ngoài tính năng chống lại các bệnh tim mạch và ung thư, tỏi còn đem lại hiệu quả cao trong việc phòng và trị chứng cảm lạnh, cảm cúm.
Ngoài ra, lương y Phạm Như Tá còn phân tích, tỏi được dùng để điều trị thấp khớp, đau họng, giảm hàm lượng cholesterol cao, huyết áp cao, xơ vữa động mạch, nhiễm trùng bàng quang, các bệnh về gan.
Dùng tỏi chữa bệnh thế nào?
Tỏi tươi:Đây là dạng dễ dùng nhất, có thể ăn sống hoặc dầm vào nước chấm. Tỏi sống giúp tiêu diệt vi khuẩn trong khoang miệng.
Mỗi ngày nên ăn 2 tép tỏi, nhiều hơn hoặc ít hơn một chút đều được. Tuy nhiên, ăn nhiều quá không có lợi vì dạ dày sẽ dễ bị kích thích và chất axilin có trong tỏi có thể gây ra chứng tan máu.
Theo các nhà dinh dưỡng, mỗi ngày ăn khoảng 10g tỏi là vô hại. Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng kiếm được tỏi tươi và ăn tỏi tươi hay để lại mùi hôi, do đó người ta thường chế biến thành các dạng khác.
Tỏi ngâm: Có thể ngâm dấm hoặc ngâm đường. Trong môi trường axit, tác dụng của tỏi tăng gấp 4 lần nên dùng tỏi ngâm dấm là rất tốt. Cách chế biến: lấy 50g tỏi tươi bóc vỏ rồi ngâm với 100ml giấm gạo, sau chừng mươi ngày là dùng được, nếu để đủ 30 ngày thì càng tốt.
Tỏi ngâm đường: lấy 50g tỏi đem ngâm nước trong 7 ngày, mỗi ngày thay nước một lần, sau đó bóc bỏ vỏ rồi ngâm với muối một lúc cho chảy hết nước. Hòa 800g đường trắng trong một cái liễn miệng nhỏ với lượng nước chín vừa đủ, đổ tỏi vào ngâm trong 1 tháng là có thể ăn được. Tỏi ngâm đường có vị mặn ngọt, mùi thơm rất thú vị.
Rượu tỏi:
– Lấy 25g tỏi bóc vỏ, giã nát rồi đem ngâm với 100ml rượu trắng, bịt kín miệng bình, để chỗ thoáng mát, sau 7 ngày là có thể dùng được, mỗi ngày uống 1-2 lần, mỗi lần 25-30ml.
– Dùng một cái bình miệng hẹp hoặc một vò rượu, đổ tỏi đã bóc vỏ vào đầy chừng 7/10 bình, xen kẽ với tỏi, rải từng lớp đường phèn đã đập vụn, rót rượu trắng vào cho ngập tỏi. Bịt kín miệng bình, để chỗ râm mát, sau 30 ngày là có thể dùng được, để càng lâu càng tốt, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 25ml.
Trà tỏi:
– Tỏi 15g, sơn tra 30g, thảo quyết minh 10g. Tỏi bóc vỏ, rửa sạch, thái mỏng rồi đem hãm với nước sôi trong bình kín cùng với sơn tra và thảo quyết minh, sau 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày.
Công dụng: hạ mỡ máu, chống béo phì, tiêu thực tích.
– Tỏi vỏ tím 10g, kim ngân hoa 6g, trà xanh 3g, cam thảo 2g. Tỏi bóc vỏ, giã nát rồi đem hãm với nước sôi trong bình kín cùng với kim ngân hoa, trà xanh và cam thảo, sau 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày.
Công dụng: thanh nhiệt giải độc, thanh nhiệt trừ thấp.
Tỏi và các món ăn – bài thuốc
Bài 1: Tỏi 30g, chim bồ câu 1 con. Chim bồ câu làm thịt, bỏ lông và nội tạng, rửa sạch cho vào bát cùng với tỏi đã bóc vỏ, cho đủ gia vị, chế thêm một chút rượu vang và nước trắng rồi đem hấp cách thủy, ăn nóng.
Công dụng: bổ khí dưỡng huyết, ích tủy sinh tinh.
Bài 2:Tỏi 50g, thịt dê nạc 250g. Thịt dê rửa sạch, thái miếng, ướp gia vị, tỏi bóc vỏ đập giập. Cho dầu thực vật vào chảo đun cho nóng già, bỏ thịt dê vào xào chín tái, bỏ tỏi và các gia vị vừa đủ đun thêm một lát là được, ăn nóng.
Công dụng: ôn thận tráng dương, bổ khí sinh tinh.
Bài 3:Tỏi 100g, dạ dày lợn 1 cái, sa nhân 3g. Dạ dày lợn rửa sạch, cho sa nhân và tỏi đã bóc vỏ vào trong, lấy chỉ khâu lại, cho vào nồi, chế thêm rượu, muối và nước lượng vừa đủ rồi hầm cho đến khi chín nhừ là được, cho thêm một chút mì chính, ăn nóng.
Công dụng: bổ hư nhược, kiện tỳ vị.


Share:

Dưỡng sinh không bao giờ muộn, hãy bắt đầu từ mùa Xuân này


Phải nói rằng tuyệt tác dưỡng sinh đều nằm trong Đông y cổ xưa, đơn giản mà ứng nghiệm vô cùng, tự thân mỗi người đều tùy thời tùy tuổi mà vận dụng được.
“Tứ thời dưỡng sinh” còn gọi là “Dưỡng sinh theo mùa“, là triết lý then chốt nhất trong dưỡng sinh trong Đông y, tức là thuận theo sự biến động của Âm Dương trong bốn mùa Xuân – Hạ – Thu – Đông, để điều dưỡng cơ thể, nhằm tăng cường sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật và kéo dài tuổi thọ.
Càn khôn xoay vần, mùa Xuân là thời kì Dương khí phát sinh, thăng phát, sinh khí tràn đầy trong trời đất, vạn vật bừng tỉnh, thay cũ đổi mới, cỏ cây đâm chồi nảy lộc, hoa lá tốt tươi. Trong giai đoạn này, Dương khí trong nhân thể cũng bừng tỉnh, thăng phát, giao hòa cùng muôn vật trong trời đất. Bí quyết dưỡng sinh chủ yếu trong giai đoạn này, chính là điều hòa cơ thể theo đúng với quy luật nảy sinh, thăng phát của Âm Dương trong Trời Đất – Vũ Trụ.
Nói cụ thể hơn, cần chú ý một số vấn đề như sau:
1. Mùa xuân – tinh thần an lạc
Theo quan niệm của Đông y, khí mùa Xuân thông với tạng Can, ứng với hành Mộc. Can chủ “tàng huyết” (tàng trữ, điều tiết huyết dịch) và “sơ tiết” (điều tiết chức năng tâm lý và sinh lý). Nếu như chức năng của Can bị trục trặc, con người sẽ dễ bị kích động, phát sinh “nộ khí” (cáu giận). Cho nên, ngày Xuân, để di dưỡng tinh thần, thuận ứng với sinh khí đang bồng bột tốt tươi trong Trời Đất, cần giữ cho tinh thần thoải mái, vui vẻ, cởi mở, lạc quan và yêu đời.



Trong ứng xử với chính mình và với người chung quanh cần lương thiện khoan dung:
Chỉ nên ban phát, giúp đỡ mà không nên tước đoạt, sát hại; chỉ khen thưởng và không nên trừng phạt, như sách “Nội Kinh” nói “Sinh nhi vật sát, dự nhi vật đoạt, thưởng nhi vật phạt, thử xuân khí nhi ứng dưỡng sinh…”.
Đặc biệt cần “chế nộ” (kiềm chế sự cáu giận) để “dưỡng tính”, bớt suy nghĩ, tư lự để “dưỡng thần”, nói ít để “dưỡng khí”, bớt các suy tính riêng tư để “dưỡng tâm”.
Chính vì thế, nên thời xưa tháng Giêng mới được coi là “tháng ăn chơi“, thường tổ chức những trò chơi giải trí, đi du sơn, ngoạn thủy, thưởng hoa… Tất cả những thứ đó đều là để thuận ứng với trạng thái bừng tỉnh, tươi tốt của mùa Xuân.
2. Khắc phục “Xuân khốn”
Mùa Xuân tới, thời tiết ấm dần, độ ẩm trong không khí tăng lên. Da thịt, lỗ chân lông giãn nở, lưu lượng máu trong hệ thống huyết quản ngoại vi tăng lên, khiến lượng máu cung cấp cho não và nội tạng giảm xuống.
Suốt những tháng mùa Đông, bộ não đã quen với trạng thái huyết dịch dồi dào, sang Xuân chưa kịp thích ứng ngay với tình trạng huyết dịch giảm thiểu. Mặt khác, bước sang mùa Xuân, chuyển hóa cơ bản trong cơ thể cũng tăng lên, cần có nhiều huyết dịch và ôxy hơn, khiến lượng máu đưa lên não càng bị giảm thiểu, khiến độ hưng phấn của thần kinh vỏ não giảm xuống rõ rệt và dẫn tới hiện tượng mệt mỏi, buồn ngủ, mà Đông y gọi là “Xuân khốn”.
Để khắc phục tình trạng “Xuân khốn” đó, các nhà dưỡng sinh đã nhận thấy cần điều tiết nếp sinh hoạt cho thích ứng như sau:
Nên ngủ muộn một ít và nên đậy sớm, đi tản bộ trong sân, đầu tóc buông xõa, quần áo và thắt lưng nới rộng, làm cho tinh thần thoải mái cởi mở, để hòa đồng với trạng thái đang nảy nở, tốt tươi của vạn vật.
Mùa Xuân cũng là thời gian đầu tư tốt nhất cho thể chất, vì thế thời xưa có câu “mùa Xuân tập cho cả năm“. Thực tế cho thấy, những người tích cực rèn luyện thân thể trong mùa Xuân, cả năm thường ít mắc bệnh tật, sức đề kháng của cơ thể tăng cao. Mùa Đông giá lạnh, con người ít có cơ hội hoạt động ở ngoài trời. Xuân sang, nên chọn nơi công viên thoáng đãng, không khí trong lành để vận động thân thể. Nên chọn những môn có động tác nhẹ nhàng, uyển chuyển, gây hứng thú như Thái cực quyền, Bát đoạn cẩm…

3. Giảm chua, tăng ngọt
Mùa Xuân thông ứng với tạng Can, thuộc hành Mộc. Theo thuyết ngũ hành, Mộc khắc chế Thổ. Mùa Xuân Can mộc thịnh, dễ dẫn đến nguy cơ khắc phạt Tỳ thổ (Tỳ thuộc hành thổ).
Cho nên, phép tắc cơ bản về ăn uống trong muà Xuân là: “Hạn chế vị chua và tăng thêm vị ngọt”. Ăn nhiều chất chua làm Can khí quá vượng, khắc phạt Tỳ thổ quá mức, làm tổn hại đến Tỳ vị, ảnh hưởng đến chức năng tiêu hóa. Mùa Xuân nên ăn thêm các chất ngọt, vì vị ngọt đi vào Tỳ, có tác dụng bổ dưỡng, tăng cường chức năng tiêu hóa của tạng Tỳ, để chống lại sự khắc phạt quá mức của tạng Can.
Để thuận ứng với sự thăng tán của khí Xuân, nói chung nên trọng dụng các thứ có vị cay, vị ngọt và ấm. Không nên dùng nhiều những thứ vị chua, vị chát. Nên dùng những món ăn thanh đạm hợp khẩu vị, không nên dùng nhiều những món xào rán béo ngậy hoặc các thứ sống lạnh. Các thứ cay ngọt có tác dụng thăng phát đối với Dương khí mới sinh, tính ấm có tác dụng bảo vệ Dương khí. Nên dùng hành, rau mùi, táo, lạc… là những thứ có tính ấm. Tuy nhiên, không nên dùng nhiều những thứ quá nóng và quá cay như lộc nhung, phụ tử…
4. Phòng sự có tiết độ
Hoạt động phòng the của con người cũng cần tăng giảm, đồng bộ với nhịp điệu thịnh suy, tiêu trưởng của Dương khí trong bốn mùa Xuân – Hạ – Thu – Đông. Nên các nhà dưỡng sinh xưa thường nói: “Xuân nhất, Hạ nhị, Thu nhất, Đông vô“.
Mùa Xuân là khởi đầu của quá trình Âm tiêu Dương trưởng, Dương khí thăng phát, chuyển hóa cơ bản trong cơ thể con người tăng lên, hàm lượng hormone sinh dục trong cơ thể cũng tăng dần dần, vì vậy nhu cầu tình dục của con người bắt đầu gia tăng. Là giai đoạn rất dễ động tình, dễ dẫn tới tình trạng tình dục phóng túng, sinh hoạt tình dục với tần suất quá cao, rất bất lợi đối với sức khỏe.
Tuy nhiên, như trên đã nói, khí mùa Xuân thông với tạng Can. Can chủ sơ tiết, ưa điều đạt, thăng phát, tán bố, thư sướng, lưu thông… Thiên thời chuyển từ Âm sang Dương và hoạt động tình dục gia tăng là lẽ thường tình, phù hợp với trạng thái thăng phát của Dương khí mùa Xuân. Do đó không nên dùng lý trí kiềm chế quá mức, trái với thiên tính thăng tán, phát tiết của Dương khí mùa Xuân. Nói cách khác, mùa Xuân đến chuyện tình dục cần có tiết độ, không phóng túng nhưng cũng cần kiềm chế quá mức.
Ngoài ra, mùa Xuân là mùa lễ hội, gắn liền với Tết, cùng những cuộc ăn chơi vui vẻ. Sinh hoạt phòng the thường diễn ra trong điều kiện ăn uống no say, vui chơi thâu đêm, cơ thể mệt nhọc, vui buồn thất thường…
Để phòng tránh các chứng bệnh mà dân gian gọi chung là “phạm phòng”, không thể không lưu ý đến một số điều cấm kỵ: Không nên tiến hành lúc uống rượu quá say, vừa ăn quá no, mới đi chơi xa về còn đang mệt nhọc, vừa tắm rửa xong người chưa khô hẳn, cũng như khi đang có những biến động mạnh về tình cảm…

5. Phòng bệnh mới, ngăn bệnh cũ
Trong mùa Xuân, có hai vấn đề cần đặc biệt chú ý:
Thứ nhất: Cần tích cực phòng trị các loại bệnh nhiễm khuẩn. Mùa Xuân ấm áp, ẩm thấp và nhiều gió, là điều kiện thích hợp để các thứ vi trùng, vi khuẩn, virus phát sinh và lan truyền. Theo Đông y học mùa Xuân hay xuất hiện các bệnh “phong ôn”, “xuân ôn”, “ôn độc”, “ôn dịch”… Còn theo Y học hiện đại, đây là thời kì hay có các dịch cảm cúm, viêm khí quản cấp tính, viêm phổi, viêm não, sởi, quai bị, tinh hồng nhiệt…
Thứ hai: Chú ý ngăn ngừa bệnh cũ tái phát. Mùa Xuân khí hậu chuyển tiếp, nóng lạnh thay đổi thất thường và những bệnh cũ rất hay tái phát, đặc biệt là ở những người cao tuổi hoặc người cơ thể vốn suy nhược.
Một số bệnh như thiên đầu thống, đau dạ dày, viêm họng mạn tính, hen suyễn, cao huyết áp, bệnh động mạch vành tim, một số dạng bệnh tâm thần… rất hay tái phát vào những ngày trước hoặc sau tiết Xuân phân.
Những người trong mùa Đông không biết cách giữ gìn thân thể, ăn quá nhiều chất cay nóng làm hao tán Âm khí gây nên chứng “Âm hư hỏa vượng“, hoặc ăn quá nhiều chất xào rán béo ngậy làm cho đàm nhiệt ẩn tích lại trong cơ thể, sang mùa Xuân bệnh sẽ phát ra với những chứng trạng như đầu mặt choáng váng, ngực bụng đầy tức, chân tay nặng trĩu, tinh thần uể oải…
Để dự phòng bệnh cũ tái phát, trong những ngày Xuân người xưa thường uống vài ba thang “tiểu tục mệnh” để nâng cao sức chống bệnh.
Sách “Thọ thế bí điển” có viết: “Tháng ba hái hoa đào ngâm với rượu uống dần, vừa trừ được bách bệnh vừa làm đẹp dung nhan“. Sách “Thiên kim phương” viết: “Trước và sau Xuân phân nên uống “thần minh tán” để dự phòng chống các “bệnh thời khí” (bệnh phát sinh do khí hậu biến đổi khác thường gây nên)”. Đó là những kinh nghiệm quý, đã được sử dụng trong nhiều thế hệ.


Share:

KHÓA HỌC HAY - ƯU ĐÃI LỚN

SỨC KHỎE LÀ VÀNG

KHỞI NGHIỆP THẬT DỄ

BÍ KÍP TÁN GÁI

ẨM THỰC TINH HOA