Theo các chuyên gia, móng tay là “tấm gương” phản chiếu tình hình lá gan của mọi người. Nếu móng tay có dấu hiệu thẳng đứng nhô trồi lên, sọc ngang màu trắng, đường màu nâu… thì bạn nên đi đến bệnh viện để kiểm tra, bảo vệ lá gan của mình.
Khi cơ thể có các vấn đề rắc rối ở gan, chúng có thể có những dấu hiệu cảnh báo ở những dấu hiệu khác nhau. Ví dụ như người viêm gan sẽ có các dấu hiệu vàng da hoặc thay đổi sắc mặt. Bên cạnh đó, móng tay cũng là chiếc đồng hồ đo thời tiết của gan, hay còn có cách nói “gan tốt xấu nằm ở móng tay”.
Theo y học cổ truyền Trung Quốc, nếu móng tay có những thay đổi dưới đây thì bạn nên đi kiểm tra sức khỏe của gan tạng.
3 dấu hiệu trên móng tay cảnh báo gan bị nhiễm độc
Móng có đường thẳng đứng nhô trồi lên
Nếu móng tay có đường thẳng đứng nhô trồi lên hoặc tự nhiên bị lõm xuống theo đường thẳng, có thể là dấu hiệu cảnh báo gan bị tích tụ chất độc hoặc quá trình trao đổi chất của gan đang gặp trở ngại, hoạt động kém.
Bởi vì gan tạng kết nối với gân, vì vậy khi gan hoạt động không hiệu quả, móng tay sẽ có một tín hiệu cảnh báo rất rõ ràng.
3 dấu hiệu trên móng tay cảnh báo gan bị nhiễm độc
Móng tay có sọc ngang màu trắng
Đây có thể là dấu hiệu cảnh báo ban đầu của bệnh gan giai đoạn sớm. Nếu bệnh gan tiến triển đến giai đoạn xơ gan, móng tay sẽ bị biến thành màu trắng một cách nghiêm trọng, không có mống trắng hình bán nguyệt ở chân móng và trở nên trắng nhợt nhạt, nhìn không có dấu hiệu của màu máu, cứng và thô như thủy tinh.
3 dấu hiệu trên móng tay cảnh báo gan bị nhiễm độc
Móng tay có đường màu nâu
Khi móng tay có vệt màu nâu nổi lên bất ngờ (khi không có sự va đập hay chấn thương) thì có thể là dấu hiệu cảnh báo bệnh viêm gan.
Viêm gan làm tổn thương các tế bào gan, dẫn đến chất sắc tố màu nâu trong tế bào gan tăng lên, với tế bào chất béo cũng tăng đồng thời ở những mức độ khác nhau làm cho móng tay có các đường vân nổi lên màu nâu. Màu nâu chính là biểu hiện của tế bào gan bị hư hại.
Những việc cấm kỵ trong khi chăm sóc gan
Tránh trầm cảm , lo lắng
Tâm lý có ảnh hưởng nhất định đến sức khoẻ của gan. Đông y có quan niệm rằng “tức giận thì tổn thương gan”, khi thái độ không tốt có tác động xấu đến hoạt động của gan. Thái độ vui vẻ có thể giúp cho gan hoạt động điều hòa, trơn tru, thuận lợi.
Khi bạn tức giận, khí trong gan sẽ dễ khiến cho huyết dịch bị tích tụ lại, làm gan tắc nghẽn, dễ sinh ra bệnh. Tâm trạng vui vẻ lạc quan là cách tốt nhất để giúp gan bài tiết và đào thải chất độc một cách dễ dàng.
Tránh lười biếng, ngồi ỳ một chỗ
Vào mùa xuân, con người dễ cảm thấy thiếu ngủ và mệt mỏi, đồng thời cũng có cảm giác lười biếng, ngại vận động. Điều cấm kỵ nhất trong quá trình chăm sóc gan chính là sự lười vận động, ít tập thể dục .
Muốn gan khỏe, bạn nên chịu khó tập thể dục, dựa vào độ tuổi của mình để lựa chọn những môn thể dục thể thao phù hợp, rèn luyện chăm chỉ hàng ngày như thái cực quyền, đi bộ.
Tăng cường tập luyện có tác dụng tăng cường sức đề kháng, nâng cao khả năng miễn dịch, có thể có tác dụng lớn trong việc dưỡng gan.
Tránh bồi bổ quá mức
Do gan vốn dĩ nóng, nên nếu tiếp tục bồi bổ quá mức, rất dễ làm tổn hại sức khỏe, không tốt cho toàn bộ hoạt động chung của cơ thể.
Theo Đông y, tỏi vị cay, tính ấm, có công dụng hành khí trệ, làm ấm tỳ vị, giải độc và sát trùng có tác dụng trị các chứng bệnh như đầy bụng, chậm tiêu, rối loạn tiêu hóa, đau bụng do lạnh, phù thũng, tiêu chảy, bệnh lỵ, sốt rét, ho gà, mụn nhọt…
Tỏi là gia vị quen thuộc của người Việt trong bữa ăn hằng ngày. Trong đông y, tỏi còn là vị thuốc trị một số bệnh hay gặp.
Ảnh minh họa.
Theo Thanh Niên, lương y Phạm Như Tá cho biết, củ tỏi có vị cay, tính ấm, có công dụng làm ấm tỳ vị, giải độc và sát trùng… Tỏi không chỉ là loại gia vị mà còn có tác dụng như một loại thuốc kháng sinh, làm tăng sức đề kháng của cơ thể, giúp giảm nguy cơ mắc các chứng bệnh do vi khuẩn hay vi rút xâm nhập.
Tỏi cũng là chất xúc tác giúp vết thương mau lành, hạn chế nguy cơ viêm nhiễm. Ngoài tính năng chống lại các bệnh tim mạch và ung thư, tỏi còn đem lại hiệu quả cao trong việc phòng và trị chứng cảm lạnh, cảm cúm.
Ngoài ra, lương y Phạm Như Tá còn phân tích, tỏi được dùng để điều trị thấp khớp, đau họng, giảm hàm lượng cholesterol cao, huyết áp cao, xơ vữa động mạch, nhiễm trùng bàng quang, các bệnh về gan.
Dùng tỏi chữa bệnh thế nào?
Tỏi tươi:Đây là dạng dễ dùng nhất, có thể ăn sống hoặc dầm vào nước chấm. Tỏi sống giúp tiêu diệt vi khuẩn trong khoang miệng.
Mỗi ngày nên ăn 2 tép tỏi, nhiều hơn hoặc ít hơn một chút đều được. Tuy nhiên, ăn nhiều quá không có lợi vì dạ dày sẽ dễ bị kích thích và chất axilin có trong tỏi có thể gây ra chứng tan máu.
Theo các nhà dinh dưỡng, mỗi ngày ăn khoảng 10g tỏi là vô hại. Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng kiếm được tỏi tươi và ăn tỏi tươi hay để lại mùi hôi, do đó người ta thường chế biến thành các dạng khác.
Tỏi ngâm: Có thể ngâm dấm hoặc ngâm đường. Trong môi trường axit, tác dụng của tỏi tăng gấp 4 lần nên dùng tỏi ngâm dấm là rất tốt. Cách chế biến: lấy 50g tỏi tươi bóc vỏ rồi ngâm với 100ml giấm gạo, sau chừng mươi ngày là dùng được, nếu để đủ 30 ngày thì càng tốt.
Tỏi ngâm đường: lấy 50g tỏi đem ngâm nước trong 7 ngày, mỗi ngày thay nước một lần, sau đó bóc bỏ vỏ rồi ngâm với muối một lúc cho chảy hết nước. Hòa 800g đường trắng trong một cái liễn miệng nhỏ với lượng nước chín vừa đủ, đổ tỏi vào ngâm trong 1 tháng là có thể ăn được. Tỏi ngâm đường có vị mặn ngọt, mùi thơm rất thú vị.
Rượu tỏi:
– Lấy 25g tỏi bóc vỏ, giã nát rồi đem ngâm với 100ml rượu trắng, bịt kín miệng bình, để chỗ thoáng mát, sau 7 ngày là có thể dùng được, mỗi ngày uống 1-2 lần, mỗi lần 25-30ml.
– Dùng một cái bình miệng hẹp hoặc một vò rượu, đổ tỏi đã bóc vỏ vào đầy chừng 7/10 bình, xen kẽ với tỏi, rải từng lớp đường phèn đã đập vụn, rót rượu trắng vào cho ngập tỏi. Bịt kín miệng bình, để chỗ râm mát, sau 30 ngày là có thể dùng được, để càng lâu càng tốt, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 25ml.
Trà tỏi:
– Tỏi 15g, sơn tra 30g, thảo quyết minh 10g. Tỏi bóc vỏ, rửa sạch, thái mỏng rồi đem hãm với nước sôi trong bình kín cùng với sơn tra và thảo quyết minh, sau 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày.
Công dụng: hạ mỡ máu, chống béo phì, tiêu thực tích.
– Tỏi vỏ tím 10g, kim ngân hoa 6g, trà xanh 3g, cam thảo 2g. Tỏi bóc vỏ, giã nát rồi đem hãm với nước sôi trong bình kín cùng với kim ngân hoa, trà xanh và cam thảo, sau 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày.
Công dụng: thanh nhiệt giải độc, thanh nhiệt trừ thấp.
Tỏi và các món ăn – bài thuốc
Bài 1: Tỏi 30g, chim bồ câu 1 con. Chim bồ câu làm thịt, bỏ lông và nội tạng, rửa sạch cho vào bát cùng với tỏi đã bóc vỏ, cho đủ gia vị, chế thêm một chút rượu vang và nước trắng rồi đem hấp cách thủy, ăn nóng.
Công dụng: bổ khí dưỡng huyết, ích tủy sinh tinh.
Bài 2:Tỏi 50g, thịt dê nạc 250g. Thịt dê rửa sạch, thái miếng, ướp gia vị, tỏi bóc vỏ đập giập. Cho dầu thực vật vào chảo đun cho nóng già, bỏ thịt dê vào xào chín tái, bỏ tỏi và các gia vị vừa đủ đun thêm một lát là được, ăn nóng.
Công dụng: ôn thận tráng dương, bổ khí sinh tinh.
Bài 3:Tỏi 100g, dạ dày lợn 1 cái, sa nhân 3g. Dạ dày lợn rửa sạch, cho sa nhân và tỏi đã bóc vỏ vào trong, lấy chỉ khâu lại, cho vào nồi, chế thêm rượu, muối và nước lượng vừa đủ rồi hầm cho đến khi chín nhừ là được, cho thêm một chút mì chính, ăn nóng.
Cổ ngữ có câu: “Nhân sinh, sự không như ý, tám chín phần mười”,đa phần đều không như ý.Có người công việc không thuận lợi, có người gia đình không hạnh phúc, có người việc học hành không lý tưởng. Tất cả những điều này có thể gây raáp lực tâm lý, uất ức buồn bựcmà sinh bệnh.
Có một số người có năng lực chịu đựng áp lực tương đối tốt, chỉ tâm niệm “lùi một bước biển rộng trời trong”, tâm lý không vui vẻ rồi cũng rất nhanh qua đi; có một số người lại không đủ khả năng chống chịu áp lực, đối với sự việc không như ý, suốt ngày canh cánh trong lòng, tâm lý chán nản thất vọng, nghĩ ngợi lung tung, ức kết trong tâm không giải khai, dần dà lâu ngày, sẽ hình thành chứng trầm cảm.
Nguyên nhân của trầm cảm
Chứng trầm cảm có 2 nguyên nhân lớn: Nhân tố thể chất và nhân tố hoàn cảnh. Nhân tố hoàn cảnh chính là áp lực; áp lực có thể làm con người ta rơi vào vòng xoáy của phản ứng tâm lý cảm xúc, phẫn nộ, bi thương, sầu lo, sợ hãi, thường xuyên không như ý, có thể dẫn tới trong tâm không vui vẻ, tình chí sa sút, phiền muộn.
Áp lực từ các nhân tố hoàn cảnh dễ dẫn đến stress. (Ảnh: ipos.vn)
Nhân tố thể chất đặc biệt quan trọng. Cùng áp lực như nhau, kích thích giống nhau, có một số người có thể buồn sầu, một số người lại không, đây chính là khác biệt về thể chất, cũng chính là khả năng chống chọi stress là không giống nhau. Ưu thế của điều trị bằng Đông y, chính là căn cứ theo thể chất mà điều trị, thư can giải uất, bổ dưỡng tâm thần, cải thiện vấn đề mất cân bằng của khí huyết, âm dương của nhân thể.
Tại sao nữ giớimắcchứng trầm cảm nhiều hơn?
Chứng trầm cảm nữ giới chiếm tỷ lệ rất cao, gấp 2-3 lần nam giới. Tại sao nữ giới tỷ lệ bị trầm cảm lại tương đối cao? Từ góc độ của Đông y mà nhìn Nhân, Can là “Tạng cương”, cơ quan “cương cường”, cần can huyết đến để nhu dưỡng, dưỡng huyết nhờ nhu can, tạng can nhu thuận, thì có thể phát huy tốt chức năng.
Nhưng mà, phụ nữ mỗi tháng có kinh nguyệt, thường xuyên hành kinh, dễ tạo thành can huyết khuyết tổn, tạng can không được nhu dưỡng của huyết dịch, thì có thể biến thành cương cường, công năng không tốt, rất dễ bị áp lực của hoàn cảnh kích thích, dẫn tới can khí uất kết, khí cơ của tạng can không thông thuận.
Nữ giới vẫn là đối tượng dễ bị trầm cảm nhất. (Ảnh: youtube.com)
Ngũ hành Đông y giảng: “Can mộc khắc tỳ thổ”, can khí uất kết, can mộc sẽ có thể đến khắc tỳ thổ, tạng can có thể ức chế chức năng tiêu hóa của tạng tỳ, dẫn tới tỳ khí hư nhược; tỳ khí hư nhược, lại có thể làm khí huyết được tạo thành không đầy đủ, can huyết khuyết tổn khiến tình hình càng nghiêm trọng, khả năng kháng stress càng không đủ, càng dễ trầm cảm.
Muốn tìm lại khả năng chống stress, thì can đởmcần phải sung túc
Tạng can là cơ quan giúp cơ thể đề kháng bệnh, đối kháng áp lực vô cùng quan trọng. Đông y ví tạng can giống như “Đại tướng quân”,Hoàng Đế Nội Kinh nói: “Can giả, tướng quân chi quan, mưu lự xuất yên”. Tạng can thì giống như “Đại tướng quân”, có năng lực cường đại to lớn, đối ngoại đề kháng bệnh tà, đối nội thư giải áp lực. Mà “can huyết” là binh lực năng lực của đại tướng quân, bạch huyết cầu trong can huyết có thể tiêu diệt vi khuẩn, virus, can huyết đầy đủ, có thể làm tạng can nhu thuận, phát huy tốt chức năng, thư can giải uất, thư giải áp lực.
Can đởm giữ vai trò quan trọng trong việc đề kháng lại áp lực. (Ảnh: dailymotion.com)
Can là “Đại tướng quân”, sở hữu binh lực cường đại, nhưng mà dùng binh phải dựa vào mưu lược, không dựa lực cường bạo; đởm chính là quyết đoán của can, là trợ thủ đắc lực của can. Hoàng Đế Nội Kinh nói: “Đởm giả, trung chính chi quan, quyết đoán xuất yên”. Đởm xử sự “trung chính”, không thiên không lệch, rất công bằng, sinh xuất quyết đoán cho can, làm cho âm dương điều hòa, do đó can – đởm là một thể, can đởm tương chiếu, cùng nhau kháng địch, đối kháng áp lực stress.
Sài hồ: thần dược thư can giải uất
Sài hồ là vị thuốc thư can giải uất thần kỳ, do Sài hồ tác dụng tới can, đởm, mà đởm là “khu cơ” (chức vụ trọng yếu), là mấu chốt của cơ thể, đầu mối then chốt, điều tiết khống chế khí cơ của cơ thể. Chính giống như là chúng ta muốn vào phòng, đởm chính là khóa phòng, mà Sài hồ là chìa khóa. Sài hồ khống chế “khu cơ” đởm, giống như dùng chìa khóa mở khóa cửa phòng, có hiệu quả giống như “dùng 2 lạng đọ ngàn cân”, do đó được gọi là thần dược.
Tiêu dao tán ra đời từ Thái bình huệ dân hòa tề cục phương triều đại Nam Tống, trị can huyết khuyết hư, can uất tỳ hư chứng. Từ ý nghĩa câu chữ mà nhìn nhận, Tiêu dao tán chính là làm cho con người ta vui vẻ, tiêu diêu – ung dung tự tại, thong dong, không bị ràng buộc…
Tại sao tiêu dao tán có thể làm con người vui vẻ, tiêu diêu? Do Sài hồ có thể thư can giải uất, sơ thông uất trệ của khí cơ cơ thể, hoãn giải uất hận muộn phiền trong lòng, làm cho người ta không còn tức ngực. Đương quy và Thược dược phối với nhau, dưỡng huyết, hòa huyết, bình can, can huyết được dưỡng, tức có thể dưỡng huyết nhu can, thư can giải uất, can khí lưu thông, tâm lý tự nhiên tốt lên, không sinh buồn bực. Tâm huyết được dưỡng, thì có thể giải uất kết trong tâm, tâm không phiền, ngủ ngon. Bạch truật, Phục linh, Cam thảo bổ ích khí tỳ vị, làm vị khí khai, cảm giác thèm ăn tăng mạnh, tiêu trừ mệt mỏi. Do đó Tiêu Dao Tán làm cho con người ta có tinh thần, thân tâm thư sướng (khoan khoái dễ chịu), khoái lạc tiêu diêu, chứng trầm cảm tự nhiên được cải thiện.
Tìm lại ý chí nghị lực, thì cần bổ dưỡng “tâm thần”
Tại sao bệnh nhân mắc chứng trầm cảm bị mất đi cảm hứng, ý chí nghị lực? Chính là “tâm thần” không được nhu dưỡng tốt. Hoàng Đế Nội Kinhnói: “Tâm giả, quân chủ chi quan, thần minh xuất yên”. Tâm là chủ tể của nhân thể, giống như quân chủ là chủ tể của quốc gia. Hoàng Đế Nội Kinh lại nói: “Tâm tàng thần”, tạng tâm tàng hữu “Thần”, cũng gọi là “tâm thần”, là vô hình, mắt thịt nhìn không thấy.
Tư tưởng, ý thức của con người thì là do “tâm thần” khống chế, biểu hiện bên ngoài chính là “thần minh” – tinh thần, ý chí nghị lực của con người. “Tâm thần” cần nhu dưỡng như thế nào? Đây chính là cần bổ dưỡng khí huyết, bổ tâm khí có thể tăng cường ý chí nghị lực, làm cho con người có tinh thần, có cảm hứng; dưỡng tâm huyết có thể an định tâm thần, tâm lý ổn định, không mất ngủ.
Quy tỳ thang: Danh phương trị liệu chứng trầm cảm, mất ngủ
Bài Quy tỳ thang: Nhân sâm, Bạch truật, Phục linh, Cam thảo, Hoàng kỳ, Đương quy, Toan táo nhân, Long nhãn, Viễn chí, Mộc hương, Sinh khương, Đại táo. (Ảnh: yhoccotruyenbinhthuan.blogpost)
Quy tỳ thang ra đời tự Chính thể loại yếucủa Y gia Tiết Kỷ triều đại nhà Minh, là phương dược nổi danh bổ ích khí huyết, kiện tỳ dưỡng tâm, chủ trị tâm tỳ khí huyết lưỡng hư chứng, tỳ bất thống huyết chứng, đối với chứng mất ngủ, hay quên, trầm cảm, suy nhược thần kinh, xuất huyết điều trị có hiệu quả rất kỳ diệu.
Nhân sâm, Bạch truật, Phục linh, Cam thảo thì là “Tứ quân tử thang”, có thể bổ tỳ khí, bổ tâm khí, tăng cường ý chí, làm cho người ta có tinh thần, có hứng thú; Hoàng kỳ có thể tăng cường hiệu quả bổ khí; Đương quy, Toan táo nhân, Long nhãn có thể bổ tâm khí, dưỡng tâm an thần, làm tâm lý ổn định, ngủ tốt; Viễn chí nhập tâm, khai tâm khiếu, thông giao tâm thận, Mộc hương lý khí tỉnh tỳ, Sinh khương khai vị tiến thực, Đại táo bổ tỳ hòa vị.
Hai thang “Tâm dược” trị tâm bệnh
Trung dược trị liệu điều chỉnh thể chất, chỉ trị khỏi một nửa, còn lại một nửa cần dựa vào “tâm dược”, cái gọi là “tâm bệnh vẫn cần tâm dược trị”. “Tâm dược” là gì đây? là cải biến về tâm thái, là khả năng kháng stress được nâng cao.
1. Bảo trì bình thường tâm, thuận kỳ tự nhiên
Đã “nhân sinh việc không như ý, tám chín phần mười”, do đó trên phương diện tâm thái cần bảo trì tâm bình thường, thuận kỳ tự nhiên, không nên quá mức truy cầu tiền tài, địa vị, tình cảm, cần có tiết chế, gọi là “hy vọng càng cao, thất vọng càng lớn, tổn hại cũng càng lớn”, không nên để bản thân lâm vào hoàn cảnh tinh thần bị thương tổn.
Người bảo trì được tâm thái vui vẻ hòa ái sẽ ít nguy cơ bệnh tật hơn. (Ảnh: )
2. Tu dưỡng “đạo đức”, nâng cao khả năng chống stress
Áp lực stress là do không hài hòa giữa người với người tạo thành, nguyên nhân tạo thành áp lực rất nhiều, có gia đình, sự nghiệp, học hành, tiền tài, quan hệ xã giao… Chúng ta cần đối phó với áp lực như thế nào đây? Tức cần phải giảm thiểu áp lực sản sinh, nâng cao khả năng chịu đựng đối kháng áp lực.
Muốn giảm thiểu áp lực, thì cần giảm thiểu sự không hòa hợp giữa người với người, phương pháp tốt nhất là tu dưỡng “đạo đức”, không ích kỷ, đối đãi với người chân thành, hữu thiện, câu thông giao lưu lẫn nhau, thông cảm tha thứ. Bởi vì xem nhẹ lợi ích cá nhân, sẽ không thể nào tranh đoạt danh lợi với người khác, không xung đột với người khác, quan hệ nhân tế xã giao hòa hợp, áp lực giảm nhẹ rồi, năng lực thư giải áp lực cũng theo đó mà nâng cao lên.
Kết luận
Chứng trầm cảm có 2 nguyên nhân lớn, nhân tố thể chất và nhân tố hoàn cảnh. Đông y điều trị có ưu thế là điều chỉnh thể chất: Thư can giải uất, bổ dưỡng tâm thần. Thư can giải uất dùng Tiêu dao tán, làm cho người ta vui vẻ, tiêu diêu. Bổ dưỡng tâm thần dùng Quy tỳ thang, tăng cường ý chí nghị lực, dễ ngủ. Nhưng mà, tâm bệnh còn cần “tâm dược” trị, cần bảo trì giữ gìn tâm bình thường, mọi sự thuận kỳ tự nhiên, cũng cần tu dưỡng “đạo đức”, nâng cao năng lực chống áp lực stress.